1
Ai là Đấng Trước Hết và Chí Cao?
Đức Chúa Trời là Đấng Trước Hết và Chí Cao.
1 Ê-sai 44:6; Ê-sai 48:12; Thi Thiên 97:9
2
Liệu rằng mọi người phải tin rằng có một Đức Chúa Trời?
Mọi người đều phải tin rằng có Đức Chúa Trời; Kẻ nào không tin thì phạm tội trọng và thật là ngu dại.
1 Hê-bơ-rơ 11:6 2 Thi Thiên 14:1
3
Nhờ đâu chúng ta biết có Đức Chúa Trời?
Ánh sáng tự nhiên trong con người và các công việc của Đức Chúa Trời bày tỏ rõ ràng rằng có Đức Chúa Trời; Nhưng chỉ có Lời và Thánh Linh Ngài mới bày tỏ điều đó một cách đầy đủ và hiệu nghiệm cho sự cứu rỗi của tội nhân.
1 Rô-ma 1:19-20; Thi Thiên 19:1-3; Công Vụ 17:24 2 1 Cô-rinh-tô 2:10; 2 Ti-mô-thê 3:15, 16
4
Lời Đức Chúa Trời là gì?
Kinh Thánh gồm các sách Cựu Ước và Tân Ước là Lời của Đức Chúa Trời, và là thước đo chắc chắn duy nhất cho đức tin và sự vâng lời.
1 2 Ti-mô-thê 3:16; Ê-phê-sô 2:20
5
Có phải mọi người đều được phép vận dụng Kinh Thánh không?
Mọi người không chỉ được phép, mà còn được truyền lệnh và khuyên bảo phải đọc, nghe, và hiểu biết Kinh Thánh.
1 Giăng 5:38; Giăng 17:17-18; Khải Huyền 1:3; Công Vụ 8:30
6
Kinh Thánh chủ yếu bao hàm những điều gì?
Kinh Thánh chủ yếu bao hàm những điều con người phải tin về Đức Chúa Trời, và bổn phận mà Đức Chúa Trời đòi hỏi nơi con người.
1 2 Ti-mô-thê 1:13; 3:15-16
7
Đức Chúa Trời là Đấng như thế nào?
Đức Chúa Trời là Thần, vô hạn, đời đời, và không hề thay đổi trong bản thể, sự khôn ngoan, quyền năng, thánh khiết, công chính, nhân từ và chân thật.
1 Giăng 4:24 2 Gióp 11:7-9 3 Thi Thiên 90:2 (Lưu ý: Bản gốc ghi Thi Thiên 110:2 có thể là lỗi đánh máy, trong thần học Cải Chánh thường trích dẫn Thi Thiên 90:2 cho tính đời đời). 4 Gia-cơ 1:17 5 Xuất Ê-díp-tô Ký 3:14 6 Thi Thiên 147:5 7 Khải Huyền 4:8 8 Khải Huyền 15:4 9 Xuất Ê-díp-tô Ký 34:6
8
Có nhiều hơn một Đức Chúa Trời không?
Chỉ có một Đức Chúa Trời duy nhất, là Đức Chúa Trời hằng sống và chân thật.
1 Phục Truyền Luật lệ Ký 6:4; Giê-rê-mi 10:10
9
Có mấy thân vị trong bản thể Đức Chúa Trời?
Có ba thân vị trong bản thể Đức Chúa Trời: Cha, Con, và Thánh Linh; ba thân vị này là một Đức Chúa Trời duy nhất, cùng một bản thể, bình đẳng về quyền năng và vinh hiển.
11 Giăng 5:7; Ma-thi-ơ 28:19
10
Các sắc lệnh của Đức Chúa Trời là gì?
Các sắc lệnh của Đức Chúa Trời là mục đích đời đời của Ngài, theo mưu định của ý muốn Ngài, bởi đó Ngài đã định trước mọi điều gì xảy ra, vì vinh hiển của chính Ngài.
1 Ê-phê-sô 1:4, 11; Rô-ma 9:22-23; Ê-sai 46:10; Ca Thương 3:37
11
Đức Chúa Trời thực thi các sắc lệnh của Ngài bằng cách nào?
Đức Chúa Trời thực thi các nghị định của Ngài trong công việc sáng tạo và quan phòng.
12
Công việc sáng tạo là gì?
Công việc sáng tạo là việc Đức Chúa Trời dùng lời quyền năng của Ngài mà dựng nên muôn vật từ hư vô trong vòng sáu ngày, và mọi vật đều rất tốt lành.
1 Sáng Thế Ký 1:1-31; Hê-bơ-rơ 11:3
13
Đức Chúa Trời đã tạo dựng con người như thế nào?
Đức Chúa Trời đã tạo dựng con người có nam và nữ, theo hình ảnh của Ngài, trong sự hiểu biết, công chính, và thánh khiết, cùng ban cho quyền quản trị các loài thọ tạo.
1 Sáng Thế Ký 1:26-28; Cô-lô-se 3:10; Ê-phê-sô 4:24
14
Các công việc quan phòng của Đức Chúa Trời là gì?
Các công việc quan phòng của Đức Chúa Trời là sự bảo tồn và tể trị mọi loài thọ tạo cùng mọi hành động của chúng một cách thánh khiết, khôn ngoan và đầy quyền năng.
1 Thi Thiên 103:19; Ma-thi-ơ 10:29-31 2 Thi Thiên 145:17 3 Ê-sai 28:29; Thi Thiên 104:24 4 Hê-bơ-rơ 1:3
15
Đức Chúa Trời đã thực thi công việc quan phòng đặc biệt nào đối với con người trong trạng thái mới được tạo dựng?
Khi Đức Chúa Trời đã tạo dựng con người, Ngài đã lập một giao ước sự sống với người, dựa trên điều kiện phải vâng phục trọn vẹn; Ngài cấm người ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác, nếu vi phạm sẽ phải bị hình phạt bằng sự chết.
1 Ga-la-ti 3:12; Sáng Thế Ký 2:17
16
Tổ phụ đầu tiên của chúng ta có tiếp tục ở trong địa vị mà họ đã được dựng nên không?
Tổ phụ đầu tiên của chúng ta, vì được để cho sự tự do của chính ý chí mình, đã sa ngã khỏi địa vị mà họ đã được dựng nên bởi phạm tội nghịch cùng Đức Chúa Trời.
1 Sáng Thế Ký 3:6-8,13; Truyền Đạo 7:29
17
Tội lỗi là gì?
Tội lỗi là bất cứ sự thiếu phù hợp nào đối với luật pháp của Đức Chúa Trời, hoặc sự vi phạm luật pháp ấy.
1 I Giăng 3:4
18
Tội lỗi nào khiến tổ phụ đầu tiên của chúng ta sa ngã khỏi địa vị mà họ đã được dựng nên?
Tội lỗi khiến tổ phụ đầu tiên của chúng ta sa ngã khỏi địa vị mà họ đã được dựng nên là việc họ ăn trái bị cấm.
1Sáng Thế Ký 3:6, 12, 16, 17
19
Có phải toàn thể nhân loại đã sa ngã trong sự vi phạm đầu tiên của A-đam không?
Vì giao ước được lập với A-đam, không chỉ cho chính ông mà còn cho hậu tự của ông, nên toàn thể nhân loại ra từ ông bởi sự sinh sản thông thường đã phạm tội trong ông, và đã sa ngã với ông trong sự vi phạm đầu tiên của ông.
1Sáng Thế Ký 2:16-17; Rô-ma 5:12; I Cô-rinh-tô 15:21–22
20
Sự Sa Ngã đã đem nhân loại vào địa vị nào?
Sự Sa Ngã đã đem nhân loại vào một địa vị của tội lỗi và khốn khổ.
1Rô-ma 5:12
21
Tính tội lỗi của địa vị mà loài người đã sa ngã vào đó, bao gồm những gì?
Tính tội lỗi của địa vị mà loài người đã sa ngã vào đó, bao gồm tội trạng của tội đầu tiên của A-đam, thiếu mất sự công chính nguyên thủy, và sự bại hoại của toàn bộ bản tính con người, điều thường được gọi là nguyên tội, cùng với mọi sự vi phạm thực tế phát sinh từ đó.
1Rô-ma 5:12 đến hết chương; Ê-phê-sô 2:1–3; Gia-cơ 1:14–15; Ma-thi-ơ 15:19
22
Sự khốn khổ của địa vị mà loài người đã sa ngã vào là gì?
Toàn thể nhân loại bởi sự sa ngã của họ đã mất mối thông công với Đức Chúa Trời, ở dưới cơn thạnh nộ và sự rủa sả của Ngài, và bởi đó bị đặt vào tình trạng phải chịu mọi sự khốn khổ trong đời này, chính sự chết, và những đau đớn của địa ngục đời đời.
1 Sáng Thế Ký 3:8, 10, 24 2 Ê-phê-sô 2:2–3; Ga-la-ti 3:10 3 Ca-thương 3:39; Rô-ma 6:23; Ma-thi-ơ 25:41, 46
23
Đức Chúa Trời có để mặc toàn thể nhân loại hư mất trong địa vị của tội lỗi và khốn khổ không?
Đức Chúa Trời — bởi sự vừa ý hoàn toàn của Ngài, từ trước vô cùng, đã chọn một số người để được sự sống đời đời — đã lập Giao Ước Ân Điển, để giải cứu họ ra khỏi địa vị của tội lỗi và khốn khổ, và đem họ vào địa vị của sự cứu rỗi bởi một Đấng Cứu Chuộc.
1 Ê-phê-sô 1:4–5 2 Rô-ma 3:20–22; Ga-la-ti 3:21–22
24
Ai là Đấng Cứu Chuộc của những người được Đức Chúa Trời chọn?
Đấng Cứu Chuộc duy nhất của những người được Đức Chúa Trời chọn là Chúa Jesus Christ; Ngài, vốn là Con đời đời của Đức Chúa Trời, đã trở nên người, và như vậy đã là và tiếp tục là Đức Chúa Trời và người trong hai bản tính phân biệt, và một thân vị duy nhất đời đời.
1 I Ti-mô-thê 2:5–6 2 Giăng 1:14; Ga-la-ti 4:4 3 Rô-ma 9:5; Lu-ca 1:35; Cô-lô-se 2:9; Hê-bơ-rơ 7:24–25
25
Đấng Christ, vốn là Con Đức Chúa Trời, đã trở nên người như thế nào?
Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, đã trở nên người bằng cách nhận lấy cho chính Ngài một thân thể thật và một linh hồn có lý trí; được thai dựng bởi quyền năng của Đức Thánh Linh trong lòng trinh nữ Ma-ri, và được sinh ra bởi bà, nhưng vô tội.
1 Hê-bơ-rơ 2:14, 17; 10:5 2 Ma-thi-ơ 26:38 3 Lu-ca 1:27, 31, 34, 35, 42; Ga-la-ti 4:4 4 Hê-bơ-rơ 4:15; 7:26
26
Đấng Christ thi hành những chức vụ nào với tư cách là Đấng Cứu Chuộc của chúng ta?
Đấng Christ, với tư cách là Đấng Cứu Chuộc của chúng ta, thi hành các chức vụ của một tiên tri, của một thầy tế lễ, và của một vị vua, cả trong địa vị hạ mình và được tôn cao của Ngài.
1 Công Vụ 3:22; Hê-bơ-rơ 12:25; II Cô-rinh-tô 13:3; Hê-bơ-rơ 5:5–7; 7:25; Thi Thiên 2:6; Ê-sai 9:6–7; Ma-thi-ơ 21:5; Thi Thiên 2:8–11
27
Đấng Christ thi hành chức vụ tiên tri như thế nào?
Đấng Christ thi hành chức vụ tiên tri bằng cách bày tỏ cho chúng ta, bởi Lời và Thánh Linh của Ngài, ý muốn của Đức Chúa Trời cho sự cứu rỗi của chúng ta.
1 Giăng 1:18; I Phi-e-rơ 1:10–12; Giăng 15:15; 20:31
28
Đấng Christ thi hành chức vụ thầy tế lễ như thế nào?
Đấng Christ thi hành chức vụ thầy tế lễ bằng việc Ngài một lần dâng chính mình làm của lễ để làm thỏa mãn sự công chính thiên thượng và hòa giải chúng ta với Đức Chúa Trời, và bằng việc liên tục cầu thay cho chúng ta.
1 Hê-bơ-rơ 9:14, 28 2 Hê-bơ-rơ 2:17 3 Hê-bơ-rơ 7:24–25
29
Đấng Christ thi hành chức vụ vị vua như thế nào?
Đấng Christ thi hành chức vụ vị vua bằng cách khiến chúng ta quy phục chính Ngài, bằng cách cai trị và bảo vệ chúng ta, và bằng cách kiềm chế cùng chinh phục mọi kẻ thù của Ngài và của chúng ta.
1 Công Vụ 15:14–16 2 Ê-sai 33:22 3 Ê-sai 32:1–2 4 I Cô-rinh-tô 15:25; Thi Thiên 110
30
Sự hạ mình của Đấng Christ bao gồm những gì?
Sự hạ mình của Đấng Christ bao gồm việc Ngài được sinh ra, và sinh ra trong một tình trạng thấp hèn, được đặt dưới Luật Pháp; chịu những khốn khổ của đời này, cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, và cái chết bị rủa sả trên thập tự giá; được chôn, và tiếp tục ở dưới quyền lực của sự chết trong một thời gian.
1 Lu-ca 2:7 2 Ga-la-ti 4:4 3 Hê-bơ-rơ 12:2–3; Ê-sai 53:2–3 4 Lu-ca 22:44; Ma-thi-ơ 27:46 5 Phi-líp 2:8 6 I Cô-rinh-tô 15:3–4 7 Công Vụ 2:24–27, 31; Ma-thi-ơ 12:40
31
Sự tôn cao của Đấng Christ bao gồm những gì?
Sự tôn cao của Đấng Christ bao gồm việc Ngài sống lại từ kẻ chết vào ngày thứ ba, thăng lên trời, ngồi bên hữu Đức Chúa Trời là Cha, và sẽ đến để phán xét thế gian vào Ngày Tận Thế.
1 I Cô-rinh-tô 15:4 2 Mác 16:19 3 Ê-phê-sô 1:20 4 Công Vụ 1:11; 17:31
32
Chúng ta được dự phần vào sự cứu chuộc mà Đấng Christ đã chuộc mua bằng cách nào?
Chúng ta được dự phần vào sự cứu chuộc mà Đấng Christ đã chuộc mua, bởi sự áp dụng hữu hiệu sự cứu chuộc ấy cho chúng ta bởi Đức Thánh Linh của Ngài.
1 Giăng 1:11–12 2 Tít 3:5–6
33
Đức Thánh Linh áp dụng cho chúng ta sự cứu chuộc mà Đấng Christ đã mua chuộc bằng cách nào?
Đức Thánh Linh áp dụng cho chúng ta sự cứu chuộc mà Đấng Christ đã mua chuộc, bằng cách vận hành đức tin trong chúng ta, và nhờ đó hiệp nhất chúng ta với Đấng Christ trong sự kêu gọi hữu hiệu của chúng ta.
1 Ê-phê-sô 1:13–14; Giăng 6:37, 39; Ê-phê-sô 2:8 2 Ê-phê-sô 3:17; I Cô-rinh-tô 1:9
34
Sự kêu gọi hữu hiệu là gì?
Sự kêu gọi hữu hiệu là công việc của Thánh Linh Đức Chúa Trời, qua đó — khi cáo trách chúng ta về tội lỗi và sự khốn khổ của chúng ta, soi sáng tâm trí chúng ta trong sự nhận biết Đấng Christ, và đổi mới ý chí chúng ta — Ngài thuyết phục và khiến chúng ta có khả năng nắm lấy Chúa Jesus Christ, Đấng được ban cho chúng ta cách nhưng không trong Tin Lành.
1 II Ti-mô-thê 1:9; II Tê-sa-lô-ni-ca 2:13–14 2 Công-vụ 2:37 3 Công-vụ 26:18 4 Ê-xê-chi-ên 36:26–27 5 Giăng 6:44–45; Phi-líp 2:13
35
Những người được kêu gọi hữu hiệu được dự phần những ích lợi nào trong đời này?
Những người được kêu gọi hữu hiệu, trong đời này, được dự phần vào sự xưng công bình, sự nhận làm con nuôi, sự thánh hóa, và các ích lợi khác mà trong đời này hoặc đi kèm với chúng hoặc tuôn chảy từ chúng.
1 Rô-ma 8:30 2 Ê-phê-sô 1:15 3 I Cô-rinh-tô 1:30
36
Sự xưng công bình là gì?
Sự xưng công bình là một hành động của ân điển nhưng không của Đức Chúa Trời, trong đó Ngài tha thứ mọi tội lỗi của chúng ta và chấp nhận chúng ta là công bình trước mặt Ngài, chỉ vì sự công bình của Đấng Christ được quy kể cho chúng ta và được tiếp nhận chỉ bởi đức tin.
1 Rô-ma 3:34–25; 4:6–8 2 II Cô-rinh-tô 5:19, 21 3 Rô-ma 5:17–19 4 Ga-la-ti 2:16; Phi-líp 3:9
37
Sự nhận làm con nuôi là gì?
Sự nhận làm con nuôi là một hành động của ân điển nhưng không của Đức Chúa Trời, nhờ đó chúng ta được nhận vào số các con cái của Đức Chúa Trời và có quyền hưởng mọi đặc ân của các con cái ấy.
1 I Giăng 3 2 Giăng 1:12; Rô-ma 8:14–17
38
Sự thánh hóa là gì?
Sự thánh hóa là công việc của ân điển nhưng không của Đức Chúa Trời, nhờ đó toàn bộ con người chúng ta được đổi mới theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, và chúng ta được khiến cho ngày càng có khả năng chết đối với tội lỗi và sống đối với sự công bình.
1 II Tê-sa-lô-ni-ca 2:13 2 Ê-phê-sô 4:23–24 3 Rô-ma 6:4, 6; 8:1
39
Những ích lợi nào trong đời này đi kèm với hoặc tuôn chảy từ sự xưng công bình, sự nhận làm con nuôi, và sự thánh hóa?
Những ích lợi trong đời này đi kèm với hoặc tuôn chảy từ sự xưng công bình, sự nhận làm con nuôi, và sự thánh hóa là sự bảo đảm về tình yêu của Đức Chúa Trời, sự bình an của lương tâm, sự vui mừng trong Đức Thánh Linh, sự gia tăng ân điển, và sự bền đỗ trong đó cho đến cuối cùng.
1 Rô-ma 5:1–2, 5 2 Rô-ma 5:5, 17 3 Châm-ngôn 4:18 4 I Giăng 5:13; I Phi-e-rơ 1:5
40
Những người tin nhận được những ích lợi nào từ Đấng Christ khi họ qua đời?
Khi những người tin qua đời, linh hồn của họ được làm nên hoàn hảo trong sự thánh khiết, và lập tức bước vào vinh hiển; còn thân thể của họ vẫn được hiệp nhất với Đấng Christ, thì yên nghỉ trong mồ cho đến sự sống lại.
1 Hê-bơ-rơ 12:23 2 II Cô-rinh-tô 5:1, 6, 8; Phi-líp 1:23; Lu-ca 23:43 3 I Tê-sa-lô-ni-ca 4:14 4 Ê-sai 57:2 5 Gióp 19:26–27
41
Những người tin nhận được những ích lợi nào từ Đấng Christ trong sự sống lại?
Trong sự sống lại, những người tin, khi được sống lại trong vinh hiển, sẽ được công khai thừa nhận và tuyên bố trắng án trong Ngày Phán Xét, và được làm cho phước hạnh trọn vẹn cả trong linh hồn lẫn thân thể, trong sự vui hưởng Đức Chúa Trời cách đầy trọn cho đến đời đời.
1 I Cô-rinh-tô 15:43 2 Ma-thi-ơ 25:23; 10:32 3 I Giăng 3:2; I Cô-rinh-tô 13:12 4 I Tê-sa-lô-ni-ca 4:17–18
42
Nhưng điều gì sẽ phải xảy ra dành cho kẻ ác khi họ qua đời?
Khi kẻ ác qua đời, linh hồn của họ sẽ bị ném vào những sự thống khổ của địa ngục; còn thân thể của họ nằm trong mồ cho đến sự sống lại và sự phán xét của ngày lớn.
1 Lu-ca 16:23–24; Công Vụ 2:24; Giu-đe 1:5, 7; I Phi-e-rơ 3:19; Thi Thiên 49:14
43
Điều gì sẽ phải xảy ra dành cho kẻ ác trong Ngày Phán Xét?
Trong Ngày Phán Xét, thân thể của kẻ ác, khi được khiến sống lại khỏi mồ, sẽ bị tuyên án, cùng với linh hồn của họ, vào những sự thống khổ không thể tả xiết với ma quỷ và các sứ giả của nó cho đến đời đời.
1 Giăng 5:28–29; Ma-thi-ơ 25:41, 46; II Tê-sa-lô-ni-ca 1:8–9
44
Bổn phận mà Đức Chúa Trời đòi hỏi nơi con người là gì?
Bổn phận mà Đức Chúa Trời đòi hỏi nơi con người là sự vâng phục đối với ý muốn được mặc khải của Ngài.
1 Mi-chê 6:8; I Sa-mu-ên 15:22
45
Lúc ban đầu, Đức Chúa Trời đã mặc khải điều gì cho con người làm quy tắc cho sự vâng phục của họ?
Quy tắc mà lúc ban đầu Đức Chúa Trời đã mặc khải cho con người để họ vâng phục là luật đạo đức.
1 Rô-ma 2:14–15; 10:5
46
Luật đạo đức được tóm lược ở đâu?
Luật đạo đức được tóm lược trong Mười Điều Răn.
1 Phục Truyền Luật Lệ Ký 10:4; Ma-thi-ơ 19:17
47
Tóm tắt của Mười Điều Răn là gì?
Tóm tắt của Mười Điều Răn là yêu kính Chúa, là Đức Chúa Trời của chúng ta, hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí; và yêu người lân cận như chính mình.
1 Ma-thi-ơ 22:37–40
48
Lời mở đầu của Mười Điều Răn là gì?
Lời mở đầu của Mười Điều Răn là những lời này: “Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, đã rút ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, là nhà nô lệ.”
1 Xuất Ê-díp-tô Ký 20:2
49
Lời mở đầu của Mười Điều Răn dạy chúng ta điều gì?
Lời mở đầu của Mười Điều Răn dạy chúng ta rằng, bởi vì Đức Chúa Trời là Chúa, là Đức Chúa Trời và là Đấng Cứu Chuộc của chúng ta, cho nên chúng ta có bổn phận phải giữ mọi điều răn của Ngài.
1 Lu-ca 1:74–75; I Phi-e-rơ 1:15–19
50
Điều răn thứ nhất là điều nào?
Điều răn thứ nhất là: “Trước mặt Ta, ngươi chớ có các thần khác.”
1 Xuất Ê-díp-tô Ký 20:3
51
Điều răn thứ nhất đòi hỏi điều gì?
Điều răn thứ nhất đòi hỏi chúng ta phải biết và thừa nhận Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời thật có một, và là Đức Chúa Trời của chúng ta; đồng thời thờ phượng và tôn vinh Ngài cho xứng đáng.
1 I Sử-ký 28:9; Phục Truyền Luật Lệ Ký 26:17 2 Ma-thi-ơ 4:10; Thi-thiên 29:2
52
Điều răn thứ nhất cấm điều gì?
Điều răn thứ nhất cấm việc chối bỏ Đức Chúa Trời thật, hoặc không thờ phượng và tôn vinh Đức Chúa Trời thật là Đức Chúa Trời và là Đức Chúa Trời của chúng ta; cũng cấm dâng cho bất cứ đối tượng nào khác sự thờ phượng và vinh hiển vốn chỉ thuộc riêng về một mình Ngài.
1 Thi Thiên 14:1 2 Rô-ma 1:21 3 Thi Thiên 81:10–11 4 Rô-ma 1:25-26
53
Qua những lời “trước mặt Ta” trong điều răn thứ nhất, chúng ta được dạy cách đặc biệt điều gì?
Những lời “trước mặt Ta” trong điều răn thứ nhất dạy chúng ta rằng Đức Chúa Trời, là Đấng thấy mọi sự, lưu ý đến và hết sức không đẹp lòng về tội có các thần khác.
1 Xuất Ê-díp-tô Ký 8:5 cho đến cuối chương
54
Điều răn thứ hai là điều nào?
Điều răn thứ hai là: “Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình, cũng chớ làm tượng nào giống những vật trên trời cao kia, hoặc nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước dưới đất. Ngươi chớ quì lạy trước các hình-tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng nó; vì ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tức là Đức Chúa Trời kỵ-tà, hễ ai ghét ta, ta sẽ nhân tội tổ-phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời, và sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những kẻ yêu-mến ta và giữ các điều-răn ta.”
1Xuất Ê-díp-tô Ký 20:4–6
55
Điều răn thứ hai đòi hỏi điều gì?
Điều răn thứ hai đòi hỏi phải tiếp nhận, tuân giữ và gìn giữ cách thanh sạch, trọn vẹn mọi sự thờ phượng tôn giáo và các nghi lễ mà Đức Chúa Trời đã chỉ định trong Lời Ngài.
1 Phục Truyền Luật Lệ Ký 32:46; Ma-thi-ơ 23:20; Công Vụ 2:42
56
Điều răn thứ hai cấm điều gì?
Điều răn thứ hai cấm thờ phượng Đức Chúa Trời bằng hình tượng, hoặc thờ phượng Ngài theo bất cứ cách nào không được chỉ định trong Lời Ngài.
1 Phục-truyền Luật-lệ Ký 4:15–19; Xuất Ê-díp-tô Ký 32:5, 8 2 Phục-truyền Luật-lệ Ký 7:31–32
57
Những lý do kèm theo điều răn thứ hai là gì?
Những lý do kèm theo điều răn thứ hai là: quyền tể trị của Đức Chúa Trời trên chúng ta, quyền sở hữu của Ngài đối với chúng ta, và lòng sốt sắng của Ngài đối với sự thờ phượng dành cho chính Ngài.
1 Thi Thiên 45:2, 3, 6 2 Thi Thiên 45:11 3 Xuất Ê-díp-tô Ký 34:13–14
58
Điều răn thứ ba là điều nào?
Điều răn thứ ba là: “Ngươi chớ lấy danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mà làm chơi, vì Đức Giê-hô-va chẳng cầm bằng vô-tội kẻ nào lấy danh Ngài mà làm chơi.”
1 Xuất Ê-díp-tô Ký 20:7
59
Điều răn thứ ba đòi hỏi điều gì?
Điều răn thứ ba đòi hỏi phải dùng cách thánh khiết và cung kính các danh của Đức Chúa Trời, các tước hiệu của Ngài, các thuộc tính của Ngài, các nghi lễ, Lời Ngài, cùng các công việc của Ngài.
1 Ma-thi-ơ 6:9; Phục Truyền Luật Lệ Ký 28:58 2 Thi-thiên 68:4 3 Khải Huyền 15:3–4 4 Ma-la-chi 1:11, 14 5 Thi-thiên 136:1–2 6 Gióp 36:24
60
Điều răn thứ ba cấm điều gì?
Điều răn thứ ba cấm mọi sự phạm thượng và lạm dụng bất cứ điều gì qua đó Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài.
1Ma-la-chi 1:6–7, 12; 2:2; 3:14
61
Lý do kèm theo điều răn thứ ba là gì?
Lý do kèm theo điều răn thứ ba là: dù những kẻ vi phạm điều răn này có thể thoát khỏi sự trừng phạt của loài người, Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta sẽ không để họ thoát khỏi sự phán xét công chính của Ngài.
1I Sa-mu-ên 2:12, 17, 22, 29; 3:13; Phục Truyền Luật Lệ Ký 28:58–59
62
Điều răn thứ tư là điều nào?
Điều răn thứ tư là: “Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh. Ngươi hãy làm hết công-việc mình trong sáu ngày; nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi: trong ngày đó, ngươi, con trai, con gái, tôi trai tớ gái, súc-vật của ngươi, hoặc khách ngoại-bang ở trong nhà ngươi, đều chớ làm công-việc chi hết; vì trong sáu ngày Đức Giê-hô-va đã dựng nên trời, đất, biển, và muôn vật ở trong đó, qua ngày thứ bảy thì Ngài nghỉ: vậy nên Đức Giê-hô-va đã ban phước cho ngày nghỉ và làm nên ngày thánh.”
1 Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8–11
63
Điều răn thứ tư đòi hỏi điều gì?
Điều răn thứ tư đòi hỏi phải biệt riêng cho Đức Chúa Trời những thời điểm Ngài đã ấn định trong Lời Ngài; cụ thể là phải giữ một ngày trọn vẹn trong bảy ngày làm ngày Sa-bát thánh cho chính Ngài.
1 Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8–11; Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:12–14
64
Đức Chúa Trời đã chỉ định ngày nào trong bảy ngày làm ngày Sa-bát hằng tuần?
Trước sự sống lại của Đấng Christ, Đức Chúa Trời đã chỉ định ngày thứ bảy trong tuần làm ngày Sa-bát hằng tuần; nhưng từ đó về sau, Ngài đã chỉ định ngày thứ nhất trong tuần, cho đến tận thế, làm ngày Sa-bát Cơ Đốc.
1 Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8–11; Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:12–14 2 Thi Thiên 118:24; Ma-thi-ơ 28:1; Mác 2:27–28; Giăng 20:19–20, 26; Khải Huyền 1:10; Mác 16:2; Lu-ca 24:1, 30–36; Giăng 20:1; Công Vụ 1:3; 2:1–2; 20:7; I Cô-rinh-tô 16:1–2
65
Ngày Sa-bát phải được thánh hóa như thế nào?
Ngày Sa-bát phải được thánh hóa bằng sự nghỉ ngơi thánh cả ngày ấy, kể cả nghỉ những công việc và sự giải trí thuộc đời này, dù được phép làm vào các ngày khác; đồng thời dành trọn thời gian cho những sự thực hành thờ phượng Đức Chúa Trời cách công khai và riêng tư, ngoại trừ khoảng thời gian cần dùng cho những công việc cần thiết và những việc thương xót.
1 Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8, 10 2 Xuất Ê-díp-tô Ký 16:25–28; Nê-hê-mi 13:15–22 3 Lu-ca 4:16; Công Vụ 20:7; tiêu đề của Thi Thiên 92; Ê-sai 66:23 4 Ma-thi-ơ 12:1–13
66
Điều răn thứ tư cấm điều gì?
Điều răn thứ tư cấm bỏ bê hoặc thực hiện cách cẩu thả các bổn phận được đòi hỏi; cũng cấm phạm ngày ấy bởi sự biếng nhác, bởi làm điều vốn là tội lỗi, hoặc bởi những ý tưởng, lời nói hay công việc không cần thiết liên quan đến công việc và sự giải trí đời này.
1 Ê-xê-chi-ên 22:26; A-mốt 8:5; Ma-la-chi 1:13 2 Công Vụ 20:7, 9 3 Ê-xê-chi-ên 23:38 4 Giê-rê-mi 17:24–27; Ê-sai 58:13
67
Những lý do kèm theo điều răn thứ tư là gì?
Những lý do kèm theo điều răn thứ tư là: Đức Chúa Trời cho phép chúng ta dùng sáu ngày trong tuần cho những công việc hợp pháp của mình; Ngài đòi riêng một ngày thứ bảy cho chính Ngài; Ngài đã nêu gương cho chúng ta; và Ngài đã ban phước cho ngày Sa-bát.
1 Xuất Ê-díp-tô Ký 20:9 2 Xuất Ê-díp-tô Ký 20:11
68
Điều răn thứ năm là điều nào?
Điều răn thứ năm là: “Hãy hiếu-kính cha mẹ ngươi, hầu cho ngươi được sống lâu trên đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho.”
1 Xuất Ê-díp-tô Ký 20:12
69
Điều răn thứ năm đòi hỏi điều gì?
Điều răn thứ năm đòi hỏi phải gìn giữ sự tôn trọng và thực hiện các bổn phận thuộc về mỗi người trong những địa vị và các mối quan hệ khác nhau của họ, như người trên, người dưới, hoặc người ngang hàng.
1 Ê-phê-sô 5:21 2 I Phi-e-rơ 2:17 3 Rô-ma 12:10
70
Điều răn thứ năm cấm điều gì?
Điều răn thứ năm cấm sự sao lãng, hoặc làm bất cứ điều gì nghịch với sự tôn trọng và bổn phận thuộc về mỗi người trong những địa vị và các mối quan hệ khác nhau của họ.
1 Ma-thi-ơ 15:4–6; Ê-xê-chi-ên 34:24; Rô-ma 13:8
71
Lý do kèm theo điều răn thứ năm là gì?
Lý do kèm theo điều răn thứ năm là lời hứa về sự sống lâu và thịnh vượng (miễn điều đó phục vụ vinh hiển Đức Chúa Trời và ích lợi của chính họ) dành cho mọi người vâng giữ điều răn này.
1 Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:16; Ê-phê-sô 6:2–3
72
Điều răn thứ sáu là điều nào?
Điều răn thứ sáu là: “Ngươi chớ giết người.”
1 Xuất Ê-díp-tô Ký 20:13
73
Điều răn thứ sáu đòi hỏi điều gì?
Điều răn thứ sáu đòi hỏi chúng ta dùng mọi phương cách hợp pháp để gìn giữ sự sống của chính mình và sự sống của người khác.
1 Ê-phê-sô 5:28–29 2 I Các Vua 18:4
74
Điều răn thứ sáu cấm điều gì?
Điều răn thứ sáu tuyệt đối cấm việc tước lấy sự sống của chính mình, hoặc tước lấy sự sống của người lân cận cách bất công, cũng như bất cứ điều gì dẫn đến việc ấy.
1 Công Vụ 26:28; Sáng Thế Ký 9:9
75
Điều răn thứ bảy là điều nào?
Điều răn thứ bảy là: “Ngươi chớ phạm tội tà dâm.”
1 Xuất Ê-díp-tô Ký 20:14
76
Điều răn thứ bảy đòi hỏi điều gì?
Điều răn thứ bảy đòi hỏi chúng ta gìn giữ sự trong sạch của chính mình và của người lân cận, trong lòng, lời nói và cách cư xử.
1 I Cô-rinh-tô 7:2–3, 5, 34, 36; Cô-lô-se 4:6; I Phi-e-rơ 3:2
77
Điều răn thứ bảy cấm điều gì?
Điều răn thứ bảy cấm mọi ý tưởng, lời nói và hành động không trong sạch.
1 Ma-thi-ơ 15:19; 5:28; Ê-phê-sô 5:3–4
78
Điều răn thứ tám là điều nào?
Điều răn thứ tám là: “Ngươi chớ trộm cắp.”
1 Xuất Ê-díp-tô Ký 20:15
79
Điều răn thứ tám đòi hỏi điều gì?
Điều răn thứ tám đòi hỏi chúng ta thu đạt và gia tăng cách hợp pháp tài sản cùng hoàn cảnh vật chất của chính mình và của người khác.
1 Sáng Thế Ký 30:30; I Ti-mô-thê 5:8; Lê Vi Ký 25:35; Phục Truyền Luật Lệ Ký 22:1–5; Xuất Ê-díp-tô Ký 23:4–5; Sáng Thế Ký 47:14, 20.
80
Điều răn thứ tám cấm điều gì?
Điều răn thứ tám cấm mọi điều đang hoặc có thể ngăn trở cách bất công tài sản và hoàn cảnh vật chất của chính chúng ta, hoặc của người lân cận.
1 I Ti-mô-thê 5:8; Châm Ngôn 28:19 2 Châm Ngôn 21:17; 23:20–21; Ê-phê-sô 4:28
81
Điều răn thứ chín là điều nào?
Điều răn thứ chín là: “Ngươi chớ nói chứng dối cho kẻ lân cận mình.”
1 Xuất Ê-díp-tô Ký 20:16
82
Điều răn thứ chín đòi hỏi điều gì?
Điều răn thứ chín đòi hỏi phải duy trì và gây dựng chân lý giữa người với người, cũng như bảo vệ danh tiếng tốt của chính mình và của người lân cận, đặc biệt trong việc làm chứng.
1 Xa-cha-ri 8:16 2 Giăng 5:12 3 Châm Ngôn 14:5, 25
83
Điều răn thứ chín cấm điều gì?
Điều răn thứ chín cấm mọi điều gây phương hại cho chân lý, hoặc làm tổn hại danh tiếng tốt của chính mình hay của người lân cận.
1 I Sa-mu-ên 17:28; Lê Vi Ký 19:16; Thi Thiên 15:2–3
84
Điều răn thứ mười là điều nào?
Điều răn thứ mười là: “Ngươi chớ tham nhà kẻ lân-cận ngươi, cũng đừng tham vợ người, hoặc tôi trai tớ gái, bò, lừa, hay là vật chi thuộc về kẻ lân-cận ngươi.”
1 Xuất Ê-díp-tô Ký 20:17
85
Điều răn thứ mười đòi hỏi điều gì?
Điều răn thứ mười đòi hỏi sự thỏa lòng trọn vẹn với hoàn cảnh của chính mình, cùng một tinh thần ngay thẳng và đầy tình yêu thương đối với người lân cận và mọi điều thuộc về họ.
1 Hê-bơ-rơ 13:5; I Ti-mô-thê 6:6 2 Gióp 31:29; Rô-ma 7:15; I Ti-mô-thê 1:5; I Cô-rinh-tô 8:4, 7
86
Điều răn thứ mười cấm điều gì?
Điều răn thứ mười cấm mọi sự không thỏa lòng với hoàn cảnh của chính mình, lòng ghen ghét hoặc buồn phiền trước sự tốt lành của người lân cận, và mọi ham muốn hay tình cảm vô độ đối với bất cứ điều gì thuộc về người ấy.
1 I Các Vua 21:4; Ê-xơ-tê 5:13; I Cô-rinh-tô 10:10 2 Ga-la-ti 5:26; Gia-cơ 3:14, 16 3 Rô-ma 7:7–8; 13:9; Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:21
87
Có người nào có thể giữ các điều răn của Đức Chúa Trời cách trọn vẹn chăng?
Không. Kể từ sau sự Sa Ngã, không một người bình thường nào trong đời này có thể giữ các điều răn của Đức Chúa Trời cách trọn vẹn; nhưng hằng ngày đều vi phạm các điều răn ấy trong ý nghĩ, lời nói hoặc việc làm.
1 Truyền Đạo 7:20; I Giăng 1:8, 10; Ga-la-ti 5:17 2 Sáng Thế Ký 4:5; 7:21; Rô-ma 3:9–21; Gia-cơ 3:2–13
88
Mọi sự vi phạm luật pháp có nghiêm trọng như nhau chăng?
Không. Một số tội lỗi, xét tự bản chất của chúng và do nhiều tình tiết tăng nặng khác nhau, nghiêm trọng hơn những tội lỗi khác trước mặt Đức Chúa Trời.
1 Ê-xê-chi-ên 8:6, 13, 15; I Giăng 5:16; Thi Thiên 78:17, 32, 56
89
Mọi tội lỗi đều đáng chịu điều gì?
Mọi tội lỗi đều đáng chịu cơn thạnh nộ và sự rủa sả của Đức Chúa Trời, cả trong đời này lẫn đời sau.
1 Ê-phê-sô 5:6; Ga-la-ti 3:10; Ca Thương 3:39; Ma-thi-ơ 25:41; Rô-ma 6:23
90
Đức Chúa Trời đòi hỏi chúng ta điều gì để có thể thoát khỏi cơn thạnh nộ và sự rủa sả mà chúng ta đáng chịu vì tội lỗi?
Để thoát khỏi cơn thạnh nộ và sự rủa sả của Đức Chúa Trời mà chúng ta đáng chịu vì tội lỗi, Đức Chúa Trời đòi hỏi chúng ta phải có đức tin nơi Đức Chúa Jesus Christ, sự ăn năn dẫn đến sự sống, cùng với việc chuyên tâm sử dụng mọi phương tiện bề ngoài mà qua đó Đấng Christ truyền thông cho chúng ta các ích lợi của sự cứu chuộc.
1 Công Vụ 20:21 2 Châm Ngôn 2:1–6; 8:33 đến hết; Ê-sai 55:2–3
91
Đức tin nơi Đức Chúa Jesus Christ là gì?
Đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ là một ân điển cứu rỗi, nhờ đó chúng ta tiếp nhận và chỉ an nghỉ nơi một mình Ngài để được cứu, theo như Ngài được ban cho chúng ta trong Phúc Âm.
1 Hê-bơ-rơ 10:39 2 Giăng 1:12; Ê-sai 26:3–4; Phi-líp 3:9; Ga-la-ti 2:16
92
Sự ăn năn dẫn đến sự sống là gì?
Sự ăn năn dẫn đến sự sống là một ân điển cứu rỗi, nhờ đó tội nhân, do thật sự nhận biết tội lỗi mình và hiểu được lòng thương xót của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ, với sự đau buồn và ghê tởm tội lỗi mình, quay khỏi tội lỗi ấy để trở về cùng Đức Chúa Trời, với quyết tâm trọn vẹn và sự nỗ lực theo đuổi đời sống vâng phục mới.
1 Công Vụ 11:28 2 Công Vụ 2:37–38 3 Giô-ên 2:12; Giê-rê-mi 3:22 4 Giê-rê-mi 31:18–19; Ê-xê-chi-ên 36:31 5 II Cô-rinh-tô 7:11; Ê-sai 1:16–17
93
Những phương tiện bề ngoài mà qua đó Đấng Christ truyền thông cho chúng ta các ích lợi của sự cứu chuộc là gì?
Những phương tiện bề ngoài và thông thường mà qua đó Đấng Christ truyền thông cho chúng ta các ích lợi của sự cứu chuộc là các nghi lễ Ngài đã thiết lập, đặc biệt là Lời Chúa, báp-têm, Tiệc Thánh và sự cầu nguyện; tất cả những phương tiện ấy được làm cho hữu hiệu đối với những người được chọn để đem họ đến sự cứu rỗi.
1 Ma-thi-ơ 28:19–20; Công Vụ 2:42, 46–47
94
Lời Chúa được làm cho hữu hiệu đem đến sự cứu rỗi như thế nào?
Đức Thánh Linh khiến việc đọc, nhưng đặc biệt là việc giảng Lời Chúa, trở thành phương tiện hữu hiệu để cáo trách và biến cải tội nhân, cũng như gây dựng họ trong sự thánh khiết và sự an ủi, qua đức tin cho đến sự cứu rỗi.
1 Nê-hê-mi 8:8; Công Vụ 26:18; Thi Thiên 19:8; I Cô-rinh-tô 14:24–25; Công Vụ 20:32; Rô-ma 1:15–16; 10:13–17; 15:4; II Ti-mô-thê 3:15–17
95
Lời Chúa phải được đọc và nghe như thế nào để trở nên hữu hiệu đem đến sự cứu rỗi?
Để Lời Chúa trở nên hữu hiệu đem đến sự cứu rỗi, chúng ta phải chú tâm đến Lời ấy với sự chuyên tâm, sự chuẩn bị và sự cầu nguyện; tiếp nhận Lời ấy bằng đức tin và tình yêu thương, cất giữ Lời ấy trong lòng, và thực hành Lời ấy trong đời sống.
1 Châm Ngôn 8:34 2 I Phi-e-rơ 2:1–2 3 Thi-thiên 119:18 4 Hê-bơ-rơ 4:2; II Tê-sa-lô-ni-ca 2:10 5 Thi-thiên 119:18 6 Lu-ca 8:15; Gia-cơ 1:25
96
Báp-têm và Tiệc Thánh trở nên những phương tiện hữu hiệu của sự cứu rỗi như thế nào?
Báp-têm và Tiệc Thánh trở nên những phương tiện hữu hiệu của sự cứu rỗi không phải do bất kỳ năng lực nào vốn có trong chính các nghi lễ ấy, hoặc trong người cử hành chúng, nhưng chỉ bởi sự ban phước của Đấng Christ và công việc của Đức Thánh Linh trong những người tiếp nhận các nghi lễ ấy bằng đức tin.
1 I Phi-e-rơ 3:21; Ma-thi-ơ 3:11; I Cô-rinh-tô 3:6–7 2 I Cô-rinh-tô 12:3; Ma-thi-ơ 28:19
97
Báp-têm là gì?
Báp-têm là một nghi lễ của Tân Ước, do Đức Chúa Jesus Christ thiết lập, để làm dấu hiệu cho người chịu báp-têm về sự hiệp thông của người ấy với Ngài trong sự chết, sự chôn và sự sống lại của Ngài; về việc người ấy được tháp vào Ngài; về sự tha thứ tội lỗi; và về việc người ấy dâng chính mình cho Đức Chúa Trời qua Đức Chúa Jesus Christ, để sống và bước đi trong đời sống mới.
1 Rô-ma 6:3–5; Cô-lô-se 2:12; Ga-la-ti 3:27 2 Mác 1:4; Công Vụ 2:38; 22:16 3 Rô-ma 6:3–4
98
Báp-têm phải được cử hành cho những ai?
Báp-têm phải được cử hành cho mọi người thật sự tuyên xưng sự ăn năn đối với Đức Chúa Trời, đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ và sự vâng phục Ngài; nhưng không cử hành cho bất cứ ai khác.
1 Công Vụ 2:38; Ma-thi-ơ 3:6 2 Công Vụ Các 8:12, 36–38; 10:47–48
99
Con trẻ của những người xưng nhận đức tin có phải chịu báp-têm không?
Con trẻ của những người xưng nhận đức tin không phải chịu báp-têm, vì trong Kinh Thánh thánh không có mệnh lệnh, gương mẫu, hoặc hệ quả chắc chắn nào dạy phải làm báp-têm cho những trẻ ấy.
1 Xuất Ê-díp-tô Ký 23:13; Châm Ngôn 30:6; Lu-ca 3:7–8
100
Báp-têm được cử hành đúng cách như thế nào?
Báp-têm được cử hành đúng cách bằng cách dìm toàn thân người chịu báp-têm xuống nước, nhân danh Cha, Con và Thánh Linh, theo sự thiết lập của Đấng Christ và thực hành của các sứ đồ; chứ không phải bằng cách rảy nước, đổ nước, hoặc chỉ nhúng một phần thân thể theo truyền thống loài người.
1 Ma-thi-ơ 3:16; Giăng 3:23; 4:1–2; Ma-thi-ơ 28:19–20; Công Vụ 8:38; Rô-ma 6:4; Cô-lô-se 2:12
101
Bổn phận của những người đã chịu báp-têm đúng cách là gì?
Bổn phận của những người đã chịu báp-têm đúng cách là dâng mình cho một Hội Thánh địa phương cụ thể và có trật tự của Đức Chúa Jesus Christ, để họ có thể bước đi không chỗ trách được trong mọi điều răn và nghi lễ của Chúa.
1 Công Vụ 2:41–42; 5:13–14; 9:26; I Phi-e-rơ 2:5; Lu-ca 1:6
102
Tiệc Thánh là gì?
Tiệc Thánh là một nghi lễ của Tân Ước, do Đức Chúa Jesus Christ thiết lập. Trong nghi lễ này, qua việc trao và nhận bánh cùng rượu theo sự chỉ định của Ngài, sự chết của Ngài được công bố; những người dự phần cách xứng đáng, không phải theo cách xác thịt hay thuộc thể, nhưng bởi đức tin, được dự phần trong thân và huyết của Ngài, cùng mọi ích lợi của Ngài, để được nuôi dưỡng thuộc linh và tăng trưởng trong ân điển.
1 Ma-thi-ơ 26:26–28; I Cô-rinh-tô 11:23–26; 10:16
103
Ai là những người thích hợp để dự nghi lễ này?
Những người thích hợp để dự nghi lễ này là những người đã chịu báp-têm trên cơ sở chính họ xưng nhận đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ và sự ăn năn khỏi những việc chết.
1 Công Vụ 2:41–42
104
Cần có những điều gì để dự Tiệc Thánh cách xứng đáng?
Những người muốn dự Tiệc Thánh cách xứng đáng phải xét mình về sự hiểu biết để phân biệt thân Chúa, về đức tin để nuôi mình bằng Ngài, về sự ăn năn, tình yêu thương, và sự vâng phục mới; kẻo vì dự phần cách không xứng đáng mà tự ăn uống sự đoán phạt cho chính mình.
1 I Cô-rinh-tô 11:28–29 2 II Cô-rinh-tô 13:5 3 I Cô-rinh-tô 11:31 4 I Cô-rinh-tô 10:16–17 5 I Cô-rinh-tô 5:7–8 6 I Cô-rinh-tô 11:28–29
105
Cầu nguyện là gì?
Cầu nguyện là dâng những ước nguyện của chúng ta lên Đức Chúa Trời, nhờ sự giúp đỡ của Đức Thánh Linh, cầu xin những điều phù hợp với ý muốn Ngài, nhân danh Đấng Christ, với đức tin, cùng sự xưng nhận tội lỗi mình và sự cảm tạ về các ơn thương xót của Ngài.
1 Thi-thiên 62:8 2 Rô-ma 8:26 3 I Giăng 5:14; Rô-ma 8:27 4 Giăng 16:23 5 Ma-thi-ơ 21:22; Gia-cơ 1:6 6 Thi-thiên 32:5–6; Đa-ni-ên 9:4 7 Phi-líp 4:6
106
Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta quy tắc nào để hướng dẫn chúng ta trong sự cầu nguyện?
Toàn bộ Lời Đức Chúa Trời có ích để hướng dẫn chúng ta trong sự cầu nguyện; nhưng quy tắc hướng dẫn đặc biệt là lời cầu nguyện mà Đấng Christ đã dạy các môn đồ Ngài, thường được gọi là Lời Cầu Nguyện Của Chúa (the Lord’s Prayer).
1 I Giăng 5:14 2 Ma-thi-ơ 6:9–13; Lu-ca 11:2–4
107
Lời mở đầu của Lời Cầu Nguyện Của Chúa dạy chúng ta điều gì?
Lời mở đầu của Lời Cầu Nguyện Của Chúa, là: “Thưa Cha chúng con ở trên trời,” dạy chúng ta đến gần Đức Chúa Trời với mọi sự tôn kính thánh và lòng tin cậy, như con cái đến với người cha có khả năng và sẵn lòng giúp đỡ mình; đồng thời dạy chúng ta cầu nguyện cùng với người khác và cầu thay cho người khác.
1 Ma-thi-ơ 6:9 2 Rô-ma 8:15; Lu-ca 11:13; Ê-sai 24:8 3 Công Vụ 12:5; I Ti-mô-thê 2:1–2
108
Chúng ta cầu xin điều gì trong lời cầu xin thứ nhất?
Trong lời cầu xin thứ nhất: “Danh Cha được thánh,” chúng ta cầu xin Đức Chúa Trời khiến chúng ta và những người khác có thể tôn vinh Ngài trong mọi điều mà qua đó Ngài bày tỏ chính mình; và xin Ngài sắp đặt mọi sự vì sự vinh hiển của chính Ngài.
1 Ma-thi-ơ 6:9 2 Thi Thiên 67:2–3 3 Thi Thiên 83; Rô-ma 11:36
109
Chúng ta cầu xin điều gì trong lời cầu xin thứ hai?
Trong lời cầu xin thứ hai: “Nước Cha được đến,” chúng ta cầu xin vương quốc của Sa-tan bị hủy diệt, vương quốc ân điển được mở rộng, chúng ta cùng những người khác được đem vào vương quốc ấy và được gìn giữ trong đó, và vương quốc vinh hiển mau đến.
1 Ma-thi-ơ 6:10 2 Thi-thiên 68:1, 18 3 Khải Huyền 12:10–11 4 II Tê-sa-lô-ni-ca 3:1; Rô-ma 10:1; Giăng 17:19–20 5 Khải Huyền 22:10
110
Chúng ta cầu xin điều gì trong lời cầu xin thứ ba?
Trong lời cầu xin thứ ba: “Ý Cha được nên ở đất như trời,” chúng ta cầu xin Đức Chúa Trời, bởi ân điển Ngài, làm cho chúng ta có khả năng và sẵn lòng nhận biết, vâng phục và thuận phục ý muốn Ngài trong mọi sự, như các thiên sứ luôn thực hiện tại trên trời.
1 Ma-thi-ơ 6:10 2 Thi-thiên 67; 119:36; II Sa-mu-ên 15:25; Gióp 1:21 3 Thi-thiên 103:20–21
111
Chúng ta cầu xin điều gì trong lời cầu xin thứ tư?
Trong lời cầu xin thứ tư: “Xin cho chúng con hôm nay đồ ăn đủ ngày,” chúng ta cầu xin rằng, do sự ban cho nhưng không của Đức Chúa Trời, chúng ta nhận được một phần đầy đủ các điều tốt lành của đời này, và vui hưởng phước lành của Ngài cùng với những điều ấy.
1 Ma-thi-ơ 6:11 2 Châm Ngôn 30:8; Sáng Thế Ký 28:20; I Ti-mô-thê 4:4–5
112
Chúng ta cầu xin điều gì trong lời cầu xin thứ năm?
Trong lời cầu xin thứ năm: “Xin tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con,” chúng ta cầu xin Đức Chúa Trời, vì cớ Đấng Christ, tha thứ cách nhưng không mọi tội lỗi của chúng ta. Chúng ta càng được khích lệ để cầu xin điều này, vì bởi ân điển Ngài, chúng ta được ban khả năng để thật lòng tha thứ người khác.
1 Ma-thi-ơ 6:12 2 Thi-thiên 51:1–2, 7, 9; Đa-ni-ên 9:17–19 3 Lu-ca 11:4; Ma-thi-ơ 18:35
113
Chúng ta cầu xin điều gì trong lời cầu xin thứ sáu?
Trong lời cầu xin thứ sáu: “Xin chớ để chúng con bị cám dỗ, nhưng cứu chúng con khỏi điều ác,” chúng ta cầu xin Đức Chúa Trời hoặc gìn giữ chúng ta khỏi bị cám dỗ phạm tội, hoặc nâng đỡ và giải cứu chúng ta khi chúng ta đang bị cám dỗ.
1 Ma-thi-ơ 6:13 2 Ma-thi-ơ 26:31 3 II Cô-rinh-tô 12:8
114
Phần kết của Lời Cầu Nguyện Của Chúa dạy chúng ta điều gì?
Phần kết của Lời Cầu Nguyện Của Chúa: “Vì nước, quyền năng và sự vinh hiển đều thuộc về Cha đời đời. A-men,” dạy chúng ta chỉ nhận lấy sự khích lệ trong cầu nguyện từ nơi Đức Chúa Trời; đồng thời, trong lời cầu nguyện, phải ngợi khen Ngài, quy nước, quyền năng và sự vinh hiển về cho Ngài. Khi nói: “A-men,” chúng ta làm chứng về lòng ước ao của mình và sự tin chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ nhậm lời.
1 Ma-thi-ơ 6:13 2 Đa-ni-ên 9:4, 7–9, 16–19 3 I Sử Ký 29:10–13 4 I Cô-rinh-tô 4:16; Khải Huyền 11:20; 22:20–21